Ứng dụng chất dẫn dụ thức ăn hiệu quả cao DMPT trong thức ăn thủy sản

Ứng dụng chất dẫn dụ thức ăn hiệu quả cao DMPT trong thức ăn thủy sản

Thành phần chính của DMPT là dimethyl-β-propionic acid timentin (dimethylprcpidthetin, DMPT). Các nghiên cứu cho thấy DMPT là một chất điều hòa thẩm thấu ở thực vật biển, có nhiều trong tảo và thực vật bậc cao ưa mặn. DMPT có thể thúc đẩy việc ăn uống, tăng trưởng và khả năng chống chịu stress của nhiều loại cá và tôm nước mặn và nước ngọt. Các nghiên cứu về hành vi và điện sinh lý của cá đã chỉ ra rằng các hợp chất chứa nhóm (CH2)2S- có tác dụng thu hút cá mạnh. DMPT là chất kích thích thần kinh khứu giác mạnh nhất. Thêm DMPT với nồng độ thấp vào thức ăn hỗn hợp có thể cải thiện tỷ lệ sử dụng thức ăn của cá, tôm và động vật giáp xác, và DMPT cũng có thể cải thiện chất lượng thịt của các loài thủy sản. Sử dụng DMPT trong nuôi trồng nước ngọt có thể làm cho cá nước ngọt có hương vị của cá nước mặn, từ đó nâng cao giá trị kinh tế của các loài nước ngọt, điều mà các chất thu hút truyền thống không thể thay thế.

Thành phần sản phẩm

DMPT (dimethyl - β - axit propionic thiamine) Hàm lượng ≥40% hỗn hợp tiền chế cũng chứa chất hiệp đồng, chất mang trơ, v.v.

thủy sinh

Chức năng và tính năng của sản phẩm

1. DMPT là một hợp chất lưu huỳnh tự nhiên, là chất dẫn dụ thức ăn thủy sinh thế hệ thứ tư. Tác dụng kích thích của DMPT gấp 1,25 lần so với choline chloride, gấp 2,56 lần so với betaine, gấp 1,42 lần so với methionine và gấp 1,56 lần so với glutamine. DMPT hiệu quả hơn 2,5 lần trong việc thúc đẩy tăng trưởng so với chế độ ăn bán tự nhiên không có chất dẫn dụ. Glutamine là một trong những axit amin dẫn dụ tốt nhất, và DMPT còn tốt hơn glutamine. Chiết xuất từ ​​nội tạng mực và giun đất có thể kích thích ăn, chủ yếu là do chứa nhiều axit amin khác nhau. Sò điệp cũng có thể được sử dụng làm chất dẫn dụ thức ăn, nhưng vị umami của chúng đến từ DMPT. DMPT hiện là chất dẫn dụ thức ăn hiệu quả nhất.

2. Cải thiện đáng kể tốc độ và tỷ lệ bóc vỏ tôm và cua, có thể thúc đẩy hiệu quả sự phát triển của tôm và cua, v.v. Chống căng thẳng, thúc đẩy quá trình trao đổi chất béo và cải thiện độ săn chắc của động vật thủy sinh, tất cả đều có tác dụng nổi bật.

3. DMPT cũng là một loại hormone tách vỏ. Nó có tác dụng rõ rệt đến tốc độ tách vỏ của tôm, cua và các động vật thủy sinh khác.

4. Thúc đẩy việc cho ăn và bổ sung thức ăn cho động vật thủy sinh, cải thiện khả năng tiêu hóa của động vật thủy sinh.

Thu hút động vật thủy sinh bơi xung quanh mồi, kích thích sự thèm ăn của động vật thủy sinh, cải thiện lượng thức ăn tiêu thụ, thúc đẩy tần suất ăn của động vật thủy sinh, nâng cao tỷ lệ sử dụng thức ăn, thúc đẩy tiêu hóa và hấp thụ, và giảm lượng thức ăn thừa.

5. Cải thiện độ ngon miệng của thức ăn chăn nuôi

Một lượng lớn khoáng chất và thành phần dược phẩm thường được thêm vào thức ăn chăn nuôi, điều này làm giảm đáng kể lượng thức ăn nhập khẩu. DMPT có thể trung hòa và che giấu mùi hôi trong thức ăn, do đó làm tăng tính ngon miệng của thức ăn và cải thiện lượng thức ăn tiêu thụ.

6. Điều này có lợi cho việc sử dụng nguồn thức ăn chăn nuôi giá rẻ.

Việc bổ sung DMPT có thể giúp thức ăn chăn nuôi thủy sản sử dụng hiệu quả hơn nguồn protein từ các loại bột phế phẩm giá rẻ, tận dụng tối đa các nguồn thức ăn có giá trị thấp, giảm thiểu tình trạng thiếu hụt protein trong thức ăn như bột cá, và giảm chi phí thức ăn.

7, với chức năng bảo vệ gan

DMPT có chức năng bảo vệ gan, không chỉ giúp cải thiện sức khỏe động vật, giảm tỷ lệ nội tạng/trọng lượng cơ thể mà còn cải thiện chất lượng động vật thủy sản có thể ăn được.

8. Cải thiện chất lượng thịt

DMPT có thể cải thiện chất lượng thịt của các sản phẩm nuôi trồng, giúp các giống nước ngọt có hương vị biển đặc trưng và tăng giá trị kinh tế.

9. Nâng cao khả năng chống lại căng thẳng và áp suất thẩm thấu:

Nó có thể cải thiện khả năng vận động và tác dụng chống stress của động vật thủy sinh (khả năng chịu nhiệt độ cao và thiếu oxy), cải thiện khả năng thích nghi và tỷ lệ sống sót của cá con, và có thể được sử dụng như chất đệm áp suất thẩm thấu trong cơ thể sống, cải thiện khả năng chịu đựng của động vật thủy sinh đối với sốc áp suất thẩm thấu.

10. Thúc đẩy tăng trưởng;DMPTcó thể kích thích ăn và thúc đẩy tăng trưởng của các sản phẩm thủy sản.

11. Giảm thiểu lãng phí thức ăn và bảo vệ môi trường nước

Việc bổ sung DMPT có thể rút ngắn đáng kể thời gian cho ăn, giảm thất thoát chất dinh dưỡng và tránh lãng phí thức ăn cũng như sự hư hỏng của thức ăn không được tiêu thụ do chất lượng nước suy giảm.

Nó có thể thúc đẩy quá trình bóc vỏ tôm và cua, thúc đẩy sự phát triển của động vật thủy sinh và nâng cao khả năng chống chịu stress.

Cơ chế tác dụng

Động vật thủy sinh có các thụ thể có thể tương tác với các hợp chất phân tử nhỏ chứa nhóm (CH2)2S. Hành vi ăn uống của động vật thủy sinh được kích thích bởi sự kích thích hóa học của các chất hòa tan (chất hấp dẫn thức ăn mạnh) trong thức ăn, và việc cảm nhận chất hấp dẫn thức ăn được thực hiện bởi các thụ thể hóa học của cá và tôm (khứu giác và vị giác). Khứu giác: động vật thủy sinh sử dụng khứu giác để tìm đường đến thức ăn rất mạnh. Khứu giác của động vật thủy sinh có thể tiếp nhận sự kích thích của các chất hóa học có nồng độ thấp trong nước, có khả năng cảm nhận mùi, có thể phân biệt các chất hóa học và cực kỳ nhạy bén, nó có thể tăng diện tích tiếp xúc với môi trường nước bên ngoài để cải thiện độ nhạy của khứu giác. Vị giác: các nụ vị giác của cá và tôm trải khắp cơ thể và bên ngoài, các nụ vị giác dựa vào cấu trúc hoàn hảo để cảm nhận sự kích thích của các chất hóa học.

Nhóm (CH2) 2S - trên phân tử DMPT là nguồn cung cấp các nhóm metyl cho quá trình trao đổi chất dinh dưỡng của động vật. Cá và tôm được cho ăn DMPT thật có vị tương tự như cá và tôm hoang dã tự nhiên, trong khi DMT thì không.

(Áp dụng) Cá nước ngọt: cá chép, cá diếc, lươn, cá hồi vân, cá rô phi, v.v. Cá biển: cá lù đù vàng lớn, cá tráp biển, cá bơn gai, v.v. Động vật giáp xác: tôm, cua, v.v.

Tôm Penaeus vannamei

Các vấn đề về sử dụng và dư lượng

Hàm lượng 40%

Trước tiên, pha loãng gấp 5-8 lần rồi trộn đều với các nguyên liệu thức ăn khác.

Cá nước ngọt: 500 -- 1000 g/t; Giáp xác: 1000 -- 1500 g/t

Hàm lượng 98%

Cá nước ngọt: 50 -- 150 g/t; động vật giáp xác: 200 -- 350 g/t

Sản phẩm có thể được sử dụng vào mùa xuân, mùa hè và mùa thu khi nhiệt độ nước cao hơn và tình trạng thiếu oxy nhẹ. Nó hoạt động tốt trong môi trường nước ít oxy và thu hút cá trong thời gian dài.

(Các vấn đề về sử dụng và dư lượng)

Đóng gói: 25kg/bao

Thời gian đăng bài: 11 tháng 5 năm 2022