Axit hữu cơ và glyceride axit hóa có tác dụng gì trong “kháng thuốc bị cấm và kháng thuốc giảm”?

Axit hữu cơ và glyceride axit hóa có tác dụng gì trong "kháng thuốc bị cấm và kháng thuốc giảm"?

Kể từ lệnh cấm sử dụng chất kích thích tăng trưởng kháng sinh (AGP) ở châu Âu năm 2006, việc sử dụng axit hữu cơ trong dinh dưỡng động vật ngày càng trở nên quan trọng trong ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi. Tác động tích cực của chúng đối với chất lượng thức ăn và hiệu suất chăn nuôi đã được chứng minh trong nhiều thập kỷ, và chúng đang ngày càng thu hút sự chú ý của ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi.

Axit hữu cơ là gì?
"Axit hữu cơ" đề cập đến tất cả các axit được gọi là axit cacboxylic được cấu tạo trên khung carbon, có thể làm thay đổi cấu trúc sinh lý của vi khuẩn, gây ra các bất thường về trao đổi chất, ngăn cản sự sinh sôi và dẫn đến tử vong.
Hầu hết các axit hữu cơ được sử dụng trong dinh dưỡng động vật (như axit formic, axit propionic, axit lactic, axit axetic, axit sorbic hoặc axit citric) đều có cấu trúc mạch thẳng và là nguồn năng lượng cho tế bào. Ngược lại,axit benzoicNó được cấu tạo từ các vòng thơm và có các đặc tính chuyển hóa và hấp thụ khác nhau.
Việc bổ sung axit hữu cơ với liều lượng cao thích hợp vào thức ăn chăn nuôi có thể làm tăng trọng lượng cơ thể, cải thiện hiệu quả chuyển hóa thức ăn và giảm sự phát triển của mầm bệnh trong đường ruột.
1. Giảm giá trị pH và khả năng đệm trong thức ăn, đồng thời có tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm.
2. Bằng cách giải phóng các ion hydro trong dạ dày để giảm giá trị pH, từ đó kích hoạt pepsinogen tạo thành pepsin và cải thiện khả năng tiêu hóa protein;
3. Ức chế vi khuẩn gram âm trong đường tiêu hóa.
4. Các chất chuyển hóa trung gian - được sử dụng làm năng lượng.
Hiệu quả của một axit hữu cơ trong việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn phụ thuộc vào giá trị pKa của nó, mô tả độ pH của axit ở nồng độ 50% ở dạng phân ly và không phân ly. Chính dạng không phân ly này là cách mà các axit hữu cơ thể hiện tính chất kháng khuẩn. Chỉ khi các axit hữu cơ ở dạng không phân ly, chúng mới có thể đi xuyên qua thành tế bào của vi khuẩn và nấm, làm thay đổi quá trình trao đổi chất của chúng và phát huy khả năng kháng khuẩn. Do đó, điều này có nghĩa là hiệu quả kháng khuẩn của axit hữu cơ cao hơn trong điều kiện axit (như trong dạ dày) và giảm đi ở độ pH trung tính (trong ruột).
Do đó, các axit hữu cơ có giá trị pKa cao là những axit yếu hơn và có tác dụng kháng khuẩn hiệu quả hơn trong thức ăn chăn nuôi do tỷ lệ dạng không phân ly cao hơn trong thức ăn, giúp bảo vệ thức ăn khỏi nấm và vi sinh vật.
Glyceride được axit hóa
Vào những năm 1980, nhà khoa học người Mỹ Agre đã phát hiện ra một loại protein màng tế bào gọi là aquaporin. Việc phát hiện ra các kênh dẫn nước này đã mở ra một lĩnh vực nghiên cứu mới. Hiện nay, các nhà khoa học đã tìm thấy rằng aquaporin tồn tại rộng rãi ở động vật, thực vật và vi sinh vật.

Thông qua quá trình tổng hợp axit propionic, axit butyric và glycerol, tạo ra este glycerol của axit α-monopropionic và este glycerol của axit α-monobutyric, bằng cách ngăn chặn kênh glycerol của vi khuẩn và nấm, thuốc can thiệp vào cân bằng năng lượng và cân bằng động màng tế bào của chúng, khiến chúng mất nguồn năng lượng, ngăn chặn quá trình tổng hợp năng lượng, từ đó phát huy tác dụng diệt khuẩn tốt và không để lại dư lượng thuốc.

Giá trị pKa của các axit hữu cơ thể hiện tác dụng ức chế vi sinh vật của chúng. Tác dụng của axit hữu cơ thường phụ thuộc vào liều lượng, và lượng hoạt chất càng nhiều tại vị trí tác động thì hiệu quả càng cao. Điều này có hiệu quả cả trong việc bảo quản thức ăn chăn nuôi và đối với dinh dưỡng cũng như sức khỏe của vật nuôi. Nếu có mặt các axit mạnh hơn, muối của axit hữu cơ có thể giúp giảm khả năng đệm của thức ăn và cung cấp anion cho quá trình sản xuất axit hữu cơ.

Các glyceride axit hóa với cấu trúc độc đáo, α-monopropionate và α-monobutyric glyceride, có tác dụng diệt khuẩn đáng kể đối với Salmonella, Escherichia coli và các vi khuẩn gram âm khác cũng như Clostridium bằng cách ức chế kênh nước-glycerine của vi khuẩn, và tác dụng diệt khuẩn này không bị giới hạn bởi giá trị pKa và giá trị pH; Nó không chỉ đóng vai trò trong ruột mà glyceride axit béo chuỗi ngắn này còn được hấp thụ trực tiếp vào máu qua ruột và đến các bộ phận bị nhiễm trùng khác nhau của cơ thể thông qua tĩnh mạch cửa để phòng ngừa và kiểm soát tốt hơn tình trạng nhiễm trùng do vi khuẩn toàn thân.

kali diformat ở lợn


Thời gian đăng bài: 22/08/2024