Chất dẫn dụ thức ăn nào được tôm càng Procambarus clarkii sử dụng?

1. Việc bổ sungTMAO, DMPT, VàallicinSử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp có thể cải thiện đáng kể sự phát triển của tôm càng, tăng tốc độ tăng trọng, lượng thức ăn tiêu thụ và giảm hiệu quả sử dụng thức ăn.

2. Việc bổ sung TMAO, DMPT và allicin riêng lẻ hoặc kết hợp có thể làm giảm hoạt động của alanine aminotransferase trong huyết thanh tôm càng và làm giảm mức cholesterol toàn phần. Ba loại chất dẫn dụ trên đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa tổn thương gan ở tôm càng và thúc đẩy sự phát triển khỏe mạnh của chúng.

https://www.efinegroup.com/product/fish-crab-shrimp-sea-cucumber-feed-bait-aquatic-98-trimethylamine-n-oxide-dihydrate-cas-62637-93-8/

3. Trimethylamine oxide (TMAO), dimethyl-β-propionate (DMPT) và allicin có thể làm tăng hàm lượng chất béo trong cơ tôm càng, trong đó allicin có tác dụng đáng kể trong việc tăng hàm lượng chất béo. Ấu trùng tôm càng cần trải qua quá trình lột xác sinh sản trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Việc bổ sung chất hấp dẫn vào thức ăn có thể đẩy nhanh quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm càng và tăng tần suất lột xác.

4. TMAO, DMPT và allicin có thể tăng cường hoạt động của enzyme tiêu hóa ở tôm càng, từ đó cải thiện khả năng tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng, đồng thời tăng cường hệ miễn dịch của chúng.

tôm càng -DMPT TMAO 

Giới thiệu ba loại chất dẫn dụ thức ăn thủy sản:

1. Trimethylamine oxide, với vai trò là chất phụ gia thức ăn tự nhiên và an toàn, có triển vọng phát triển rộng rãi trong chăn nuôi.

Các chức năng chính là:

(1) thúc đẩy sự tăng sinh của tế bào cơ để thúc đẩy sự phát triển của mô cơ.

(2) Tăng thể tích mật và giảm tích tụ mỡ.

(3) Tham gia vào việc điều chỉnh áp suất thẩm thấu của động vật thủy sinh.

(4) Ổn định cấu trúc protein.

(5) Cải thiện tỷ lệ chuyển đổi thức ăn.

(6) Cải thiện tỷ lệ thịt nạc (bằng cách giảm hàm lượng chất béo thể ketone).

(7) Sự tươi mát đặc biệt và vị ngọt thanh mát có tác dụng hấp dẫn đối với thức ăn.

 

2. Dimethyl - β - axit propionic thiazole (DMPT)Động vật thủy sinh có thể tiếp nhận các chất kích thích hóa học ở nồng độ thấp trong nước thông qua khứu giác. Chúng có khả năng phân biệt các chất hóa học và cực kỳ nhạy cảm. Các nếp gấp bên trong khoang khứu giác giúp tăng diện tích tiếp xúc với môi trường nước bên ngoài, từ đó cải thiện độ nhạy khứu giác. Vì vậy, cá, tôm và cua có cơ chế sinh lý ăn mồi mạnh mẽ đối với mùi đặc trưng của DMPT, và DMPT tận dụng thói quen này của động vật thủy sinh để tăng tần suất ăn mồi. Là chất thu hút thức ăn và chất thúc đẩy tăng trưởng cho động vật thủy sinh, DMPT có tác dụng thúc đẩy đáng kể hành vi ăn mồi và sự tăng trưởng của nhiều loại cá biển và cá nước ngọt, tôm và cua. Việc tăng số lần động vật thủy sinh cắn mồi dẫn đến hiệu quả kích thích ăn mồi cao hơn 2,55 lần so với glutamine (glutamine được biết đến là chất kích thích ăn mồi hiệu quả nhất đối với hầu hết các loài cá nước ngọt trước DMPT).

(1) Nhóm (CH3) 2S - trên phân tử dimethyl - β - axit propionic thiazole (DMPT) có chức năng cho methyl và được động vật thủy sinh sử dụng hiệu quả, thúc đẩy tiết enzyme tiêu hóa trong cơ thể động vật, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng ở cá và cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn.

(2) Cải thiện khả năng vận động và sức đề kháng của động vật thủy sinh (khả năng chịu nhiệt độ cao và thiếu oxy), tăng cường khả năng thích nghi và tỷ lệ sống sót của cá con, và có thể được sử dụng như một chất đệm áp suất thẩm thấu trong cơ thể để cải thiện sức chịu đựng của động vật thủy sinh đối với sự dao động áp suất thẩm thấu.

(3) Hoạt động lột vỏ mạnh mẽ làm tăng tốc độ lột vỏ của tôm và cua, đặc biệt là trong nuôi tôm và cua.


Thời gian đăng bài: 31/03/2025